CHUẨN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP: ĐẢM BẢO NGƯỜI HỌC CÓ ĐỦ KIẾN THỨC, KỸ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CÀU KHẮT KHE CỦA THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG.

Ngày 30/6/2026 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 55/2026/TT-BGDĐT quy định về chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp đối với các chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, chương trình đào tạo trình độ trung cấp và chương trình giáo dục trung học nghề, bao gồm: mục đích ban hành, nội dung của chuẩn chương trình đào tạo và tổ chức thực hiện. Áp dụng đối với các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp thực hiện chương trình đào tạo cấp văn bằng của Việt Nam trong giáo dục nghề nghiệp; các tổ chức và cá nhân có liên quan.

Việc ban hành chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp nhằm mục đích:

Làm căn cứ xây dựng chuẩn chương trình đào tạo cho lĩnh vực hoặc nhóm ngành, nhóm nghề hoặc ngành, nghề đặc thù theo từng trình độ đào tạo.

Làm căn cứ để cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp biên soạn, thẩm định, lựa chọn, ban hành chương trình đào tạo; xây dựng các quy định về tuyển sinh và tổ chức đào tạo.

Được sử dụng trong công tác quản lý nhà nước, kiểm tra và kiểm định chất lượng giáo dục; đồng thời phục vụ việc giám sát của các bên liên quan và xã hội đối với hoạt động và kết quả đào tạo của cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp.

Theo đó, chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp được xây dựng cho từng ngành, nghề đặc thù và cho từng lĩnh vực hoặc nhóm ngành, nhóm nghề đào tạo đối với các ngành, nghề khác không phải ngành, nghề đặc thù theo Danh mục ngành, nghề đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, gồm 07 nội dung: Mục tiêu; Chuẩn đầu ra; Yêu cầu đầu vào; Khối lượng học tập tối thiểu; Cấu trúc chương trình; Phương pháp giảng dạy và đánh giá; Các điều kiện bảo đảm chất lượng để thực hiện chương trình đào tạo.

      Xác định rõ các yêu cầu về năng lực ngoại ngữ, năng lực số, kỹ năng xanh cho từng cấp độ đào tạo:

Đối với chương trình đào tạo trình độ cao đẳng:

Người học sau khi hoàn thành chương trình, có năng lực ngoại ngữ đạt tối thiểu bậc 3/6 theo Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam; có năng lực số đạt tối thiểu bậc 6/8 theo Khung năng lực số cho người học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; có kỹ năng xanh về sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu chất thải, bảo vệ môi trường và thích ứng với yêu cầu chuyển đổi xanh trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ;

  Đối với chương trình đào tạo trình độ trung cấp, chương trình giáo dục trung học nghề

Người học sau khi hoàn thành chương trình, có năng lực ngoại ngữ đạt tối thiểu bậc 2/6 theo Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam; có năng lực số đạt tối thiểu bậc 5/8 theo Khung năng lực số cho người học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định; có kỹ năng xanh về sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu chất thải, bảo vệ môi trường và thích ứng với yêu cầu chuyển đổi xanh trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.

Bảo đảm tính khả thi, khả năng liên thông trong đào tạo và phù hợp với khối lượng học tập, yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo.

         Khối lượng học tập tối thiểu đối với từng trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp

Theo quy định của Thông tư, khối lượng học tập của chương trình đào tạo được tính bằng tín chỉ, không nhỏ hơn khối lượng học tập tối thiểu theo bậc trình độ tương ứng quy định tại Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Một tín chỉ tương đương 45 giờ học tập của người học, bao gồm thời gian lý thuyết (gồm lý thuyết trên lớp, tự học, thi, kiểm tra); thời gian thực hành (gồm thực hành, thực tập, thí nghiệm, thảo luận tại trường, tại doanh nghiệp hoặc nơi sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làm tiểu luận, bài tập lớn, đồ án, khoá luận tốt nghiệp, tự học, thi, kiểm tra).

Một tín chỉ phải thực hiện tối thiểu 15 giờ lý thuyết trên lớp hoặc 30 giờ thực hành, thực tập, thí nghiệm, thảo luận tại trường, tại doanh nghiệp hoặc nơi sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, làm tiểu luận, bài tập lớn, đồ án, khoá luận tốt nghiệp. Một giờ học lý thuyết trên lớp là 45 phút; một giờ học thực hành, thực tập, thí nghiệm tại trường, tại doanh nghiệp, tại nơi sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là 60 phút.

Trong đó:

Đối với chương trình đào tạo trình độ cao đẳng: tuỳ theo từng ngành, nghề đào tạo, thời gian lý thuyết chiếm từ 30% đến 50%; thời gian thực hành chiếm từ 50% đến 70% tổng khối lượng học tập của chương trình.

Đối với chương trình đào tạo trình độ trung cấp: tuỳ theo từng ngành, nghề đào tạo, thời gian lý thuyết chiếm từ 25% đến 45%; thời gian thực hành chiếm từ 55% đến 75% tổng khối lượng học tập của chương trình.

Đối với chương trình giáo dục trung học nghề

+ Khối lượng học tập của chương trình giáo dục trung học nghề bao gồm khối lượng kiến thức chương trình trung học phổ thông có định hướng nghề nghiệp và khối lượng kiến thức chuyên môn nghề. Khối lượng kiến thức chương trình trung học phổ thông có định hướng nghề nghiệp chiếm từ 40% đến 50% và khối lượng kiến thức chuyên môn nghề chiếm từ 50% đến 60% tổng khối lượng học tập của chương trình;

+ Tuỳ theo từng ngành, nghề đào tạo, phần chuyên môn nghề có thời gian lý thuyết chiếm từ 30% đến 45%; thời gian thực hành chiếm từ 55% đến 70%.

– Tỷ lệ thời gian lý thuyết và thời gian thực hành trong tổng khối lượng học tập của chương trình đào tạo các ngành, nghề đặc thù được phép điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng người học và được quy định trong chuẩn chương trình đào tạo ngành, nghề đặc thù.

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 30.6.2026, các đồng chí quan tâm tìm đọc toàn văn Thông tư trên Website của Nhà trường: cdn21.edu.vn hoặc fanpage: Trường cao đẳng nghề số 21.

                                                                           Thượng tá Đinh Văn Phê

                                                            Phó Hiệu trưởng kiêm Trưởng phòng Đào tạo

Contact Me on Zalo